Cô kể: Do ảnh hưởng của phong tục tập quán, một bộ phận dân tộc ít người như: Mông, Dao,… có phong tục lấy vợ, lấy chồng sớm
Thế nhưng, đó lại là một niềm hạnh phúc rất riêng, rất âm thầm, giúp họ có thể vượt qua các nghiên cứu đầy thử thách. Cho đến giờ hai vợ chồng học sinh đó vẫn đến thăm cô, tâm tình với cô về cuộc sống. Cô Xuân tâm tư: “Tôi cảm thấy hạnh phúc khi thấy con chữ đã về với các em, về với bản làng. Thấy các em nói thạo tiếng Việt rồi khôn lớn, trưởng thành mà lòng tôi mừng vui khôn xiết”.
Những người làm NCKH đẵn phải tự nghiên cứu, mày mò như những con ong chăm chỉ tích lũy kiến thức cho xã hội, may mắn lắm được giải thưởng này, giải thưởng kia thì mới có người biết và quan hoài đến.
TS Trần Thị Chung Toàn – Trưởng khoa tiếng Nhật Trường Đại học Hà Nội – Người vừa được nhận giải thưởng hào kiệt sáng tạo nữ Tổng liên đoàn năm 2013 với công trình NCKH “Xây dựng tư liệu học chữ Hán trong tiếng Nhật cho người Việt trên cơ sở tận dụng tri thức Hán - Việt”.
Cô Tuyền tỏ tường: “Đôi khi hạnh phúc của người thầy chỉ cần như thế là đủ”
TS Nguyễn Thị Chung Toàn: NCKH là một công việc lặng thầm, lặng lẽ thầm lặng cống hiến Là người vừa trực tiếp giảng dạy, vừa nghiên cứu khoa học từ những năm đầu của thập niên 80, PGS. Lúc bấy giờ có học sinh lớp 7 người dân tộc Mông bỏ học về nhà lấy chồng, cô đã phải lặn lội hàng chục cây số, đến từng nhà rất nhiều lần để khích lệ các em đi học, sau bao lăm vất vả, ráng, rốt cục cô đã vận động được cả 2 vợ chồng nối đi học.
Trọng điểm trường cách xa huyện lị, đường sá đi lại hiểm trở, khó khăn, lớp cô gánh vác lại là một lớp có nhiều đối tượng học sinh. Cô Toàn đãi đằng: NCKH là một công việc thầm lặng, lặng lẽ, làm không vì khen thưởng và không vì danh vọng. Do đó để các em không bỏ học, cô đã không quản ngại khó khăn, nặng nhọc bám trường, bám lớp, đầu tư nhiều thời gian để nắm bắt tâm can, tình cảm của các em, từ đó cổ vũ, khuyến khích các em hăng say học tập và đến lớp đầy đủ.
Cô đã dạy các em từng mặt chữ, từng con số trong hoàn cảnh còn khó khăn, thiếu thốn đủ bề, những bài giảng được soạn bên những bữa ăn chỉ có rau rừng và được soạn tranh thủ khi còn ánh nắng màng tang …Thế nhưng cô đã đem hết sức mình để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó
Thỉnh thoảng phụ huynh hoặc học trò nhớ cô giáo đến tặng một đôi củ sắn, củ khoai, vài cân ngô hay mấy bông món rừng cùng những lời chúc vẫn còn bẽn lẽn, vụng trộm, những tình cảm linh, hết mực mộc mạc, giản dị và thật tâm. PGS. - Huơ nghề giáo: Những dấu lặng vô giá - Dùng âm nhạc để hướng thiện Cô Hoàng Thị Tuyền đàm đạo bài với học trò 35 năm gắn bó với nghề Ra trường từ năm 1986, đến nay cô Hoàng Thị Tuyền – thầy giáo Trường THCS Pác Pó (Hà Quảng - Cao Bằng) đã có hơn 35 năm gắn bó với các em học trò dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế, tầng lớp đặc biệt khó khăn.
Giờ đây, cô vừa là người mẹ vừa là người bạn của các em học trò và cô đã trở thành thành viên thân thuộc của bản làng Nậm Cần. Cô Phạm Thị Xuân cùng các em học trò Trường tiểu học Nậm Cần trong giờ học môn tiếng Việt Nỗi lòng GV vùng khó Cô giáo Phạm Thị Xuân – Trường Tiểu học xã Nậm Cần, (Tân Uyên - Lai Châu) người đã có 35 năm trong ngành giáo dục và 25 năm trực tiếp làm công tác giảng dạy học sinh tiểu học tại những địa bàn thuộc vùng kinh tế, từng lớp đặc biệt khó khăn với 100% học sinh là con em các dân tộc thiểu số, phần nhiều gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Cô Tuyền vẫn còn nhớ như in lần vận động được cả hai vợ chồng người dân tộc đi học.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét